Sự thú tội của người cha

Josephus_Laurentius_Dyckmans_-_The_Blind_Beggar
Guy de Maupassant (Pháp)

Ai cũng có một quá khứ và những bí mật đen tối cần chôn giấu, ngay cả với người tưởng chừng lương thiện nhất…

Mọi người dân vùng Veziers của thị trấn Rethel đã theo chân đám tang đưa ông Badon Leremince đến mộ phần. Và sau khi vị đại biểu của vùng vừa dứt lời, những từ cuối cùng của bài văn tế vẫn còn vương vấn mãi trong tâm trí của mọi người: “Hơn hết, ông là một con người lương thiện!”

Bản chất lương thiện luôn hiện hữu trong mọi hành động suốt cuộc đời ông, trong những lời ông nói ra, trong thái độ, cách cư xử, trong sự nghiệp, hiển hiện trên chòm râu và mái tóc ông. Ông chưa bao giờ thốt ra một lời thiếu mẫu mực, chưa bao giờ ban phát của bố thí mà không ban tặng thêm một vài lời khuyên nhủ, chưa bao giờ giang tay ra mà không làm dấu chúc phúc cho ai đó.

Ông bỏ lại hai đứa con, một trai và một gái. Con trai ông là tổng cố vấn và con gái ông đã kết hôn với một luật sư- ngài Poirel de la Voulte- và bước lên tầng lớp cao nhất ở Veziers.

Họ chưa thể nguôi được cái chết của cha vì họ yêu ông chân thành tha thiết.

Ngay khi lễ tang kết thúc, người con trai, con gái và con rể trở về căn nhà của sự tang tóc, và nhốt mình trong thư viện, bắt đầu mở tờ chúc thư. Những dấu niêm phong được chính họ gỡ ra chỉ sau khi quan tài đã được nằm yên dưới lòng đất. Mong muốn cuối cùng của người quá cố được gửi đến hỏa tốc bởi thời hạn ghi trên bao thư.

Ông Poirel de la Voulte giật mạnh để mở bì thư bằng phong cách của một luật sư đã quen với những việc như thế này. Sau khi chỉnh lại cặp kính, ông đọc lá thư bằng một giọng đều đều buồn tẻ như thường đọc những tờ giao kèo, khế ước.

“Các con của cha, những đứa con thân yêu của cha, cha không thể an nghỉ giấc ngủ ngàn thu nếu cha không gửi cho các con từ nấm mồ một lời thú tội, lời thú tội của một kẻ tội đồ, luôn ăn năn hối hận cho cái điều đã hủy hoại cuộc đời cha. Phải, cha đã dính vào một tội ác, một tội ác khủng khiếp đáng kinh tởm.

Lúc đó, cha hai mươi sáu tuổi và được gọi đến làm ở một quầy rượu tại Paris. Cha phải sống một cuộc sống cách xa với bao thanh niên trai tráng từ những vùng khác, lâm vào cảnh bị bỏ bơ vơ trong thị trấn này mà chẳng có lấy một ai quen biết, bà con thân thuộc hay bạn bè.

Cha đã có một người tình. Có những con người không thể sống một mình. Cha là một trong số đó. Sự cô đơn đầy ắp trong cha với nỗi đau đớn khủng khiếp, nỗi cô đơn cũng lấp đầy căn phòng của cha bên cạnh lò sưởi mỗi đêm. Thế rồi, cha cảm thấy y như rằng cha chỉ có một mình trơ trọi trên thế gian, nhưng lại bị bủa vây bởi biết bao nguy hiểm mơ hồ, những điều khủng khiếp xa lạ. Những tấm vách ngăn cũng khiến cha xa cách với mấy người hàng xóm mà cha chưa từng biết với một khoảng cách xa vời vợi như những ngôi sao cha thấy ngoài cửa sổ. Một cảm xúc lan khắp người cha, một loại cảm xúc của sự thiếu kiên nhẫn và sợ hãi. Sự câm lặng của bốn bức tường khiến cha kinh khiếp, sự im lìm của căn phòng chỉ có mỗi một con người sống đơn độc vô cùng mãnh liệt và đầy sầu muộn. Đó không chỉ là sự im lặng của tâm hồn, khi một món đồ đạc trong nhà phát ra một tiếng nứt rạn răng rắc, âm thanh ấy như đi xuyên qua cơ thể trong lúc cha chẳng dám mong đợi bất cứ tiếng động nào tồn tại trong nỗi sầu muộn này.

Biết bao lần, hoảng sợ và ngại ngùng cho sự im lặng bất động ấy, cha bắt đầu nói chuyện, lặp lại những từ ngữ không vần điệu hay lý do và chỉ gây ra một vài tiếng động. Giọng của cha những lúc ấy quá lạ lùng đến nỗi cha cũng lo lắng về điều đó. Còn điều gì dễ sợ hơn việc nói chuyện với chính mình trong một căn nhà trống? Giọng nói của mình mà nghe như của kẻ khác, một giọng xa lạ vang lên bâng quơ không nhằm vào ai, vang lên trong một không gian trống rỗng mà không có đôi tai nào lắng nghe, không ai biết chính xác những từ nào sẽ thốt ra trước khi chúng tan vào sự vắng vẻ tĩnh mịch của căn phòng. Và khi vang dội một cách sầu thảm trong thinh lặng, chúng chỉ dường như tiếng vang không hơn không kém, những tiếng vang kỳ dị, thì thào phát ra từ suy nghĩ của một người.

Người tình của cha là một cô gái trẻ như bao cô gái trẻ khác sống tại Paris mà nếu chỉ có tiền thì không đủ để giữ chân họ. Cô gái này rất dịu dàng, tốt tính, giản dị. Ba mẹ cô ta sống tại Poissy. Thỉnh thoảng cô ta về sống chung với họ vài ngày.

Suốt một năm cha đã sống khá yên ổn bên cô gái ấy và hoàn toàn quyết định rằng mình sẽ rời bỏ cô ta khi cha tìm được người nào khác mình yêu sâu sắc và có thể kết hôn. Cha đã dự tính cho điều này. Cũng dễ hiểu thôi, trong xã hội của chúng ta, tình yêu của một người phụ nữ sẽ phải trả giá, bằng tiền nếu cô ta nghèo, bằng tặng phẩm nếu cô ta giàu.

Nhưng đến một ngày cô ta nói với cha rằng mình đã có mang. Cha như nghe sét đánh ngang tai và chỉ trong một giây cha đã thấy rằng đời mình sẽ bị hủy hoại. Cha đã thấy cái cùm mà cha sẽ phải đeo cho đến chết, ở khắp mọi nơi, trong đời sống gia đình tương lai cha, trong lúc tuổi già, mãi mãi… Cái cùm của một người phụ nữ đã trói buộc cuộc đời cha chỉ vì một đứa bé, cái cùm của một đứa trẻ mà cha phải nuôi nấng, trông nom, che chở cùng lúc với việc phải tỏ ra không biết nó và che dấu nó với cả thế giới.

Cha đã vô cùng lo lắng trước tin này. Và bỗng dưng một khao khát mơ hồ, một ao ước đầy tội lỗi ác, dấy lên trong tâm trí cha. Cha không thể diễn tả nó rõ ràng, nhưng cha cảm thấy nó nằm trong tim cha, đã sẵn sàng tràn ra ngoài như thể đang ẩn sau một kẻ canh gác và chỉ còn chờ đợi một tín hiệu để bùng phát. Giả sử có một vài tai nạn nào đó xảy ra! Rất nhiều sinh linh nhỏi nhoi như thế này đã chết trước khi được sinh ra!

Ôi! Cha không muốn người tình của cha chết! Cô gái tội nghiệp, cha yêu đã yêu cô ta rất nhiều! Nhưng cha hy vọng rằng, có thể, đứa bé sẽ chết trước khi cha thấy nó.

Nhưng, thằng bé đã chào đời. Cha phải lo toan cắt đặt mọi việc trong căn hộ chỉ có một phòng nhỏ, nơi chỉ mang tiếng là nhà với một đứa bé kinh khủng. Nó cũng giống như mọi đứa trẻ khác, cha không quan tâm đến nó. Những người cha, các con biết đó, không biểu lộ cảm xúc cho đến sau này. Họ không có bản năng và sự dịu hiền, thương mến đầy thiết tha như những người mẹ, cảm xúc của họ phải được đánh thức từ từ, tâm trí của họ phải dần dần được kết nối bằng những sợi dây hình thành mỗi ngày với các sinh linh bé bỏng đang tồn tại trong thế giới của chúng.

Một năm trôi qua. Bấy giờ, cha thường tránh về nhà, nơi chật hẹp đầy vải lanh dơ bẩn, đầu quần áo trẻ con và những đôi vớ nhỏ bằng những đôi găng nằm trên đất, nơi có cả ngàn thứ đủ mọi hình dạng nằm la liệt trên đồ đạc, trên cánh tay của ghế dựa, ở khắp mọi nơi. Cha chủ yếu ở bên ngoài, trước hết để không phải nghe tiếng đứa trẻ khóc vì nó toàn khóc bởi những nguyên nhân chẳng đáng gì: khi nó tắm, khi nó bị động chạm, khi nó được đặt lên giường, khi nó được bế lên vào buổi sáng, không ngừng nghỉ.

Cha đã có một vài người quen, đã tiếp và gặp một người phụ nữ sau này là mẹ của các con. Cha yêu nàng và mong muốn được lấy nàng. Cha đã tỏ tình với nàng, cha thỉnh cầu sự ưng thuận của cha mẹ nàng và họ cũng chấp nhận.

Cha chợt nhận ra mình đang trong tình thế tiến thoái lưỡng nan: hoặc cha phải cưới cô gái trẻ mà cha đã từng say mê trước đây và nay đã có một đứa con với cha, hoặc nếu nói sự thật và từ bỏ nàng thì cha sẽ không có hạnh phúc, tương lai, và tất cả mọi thứ, vì cha mẹ nàng với những nguyên tắc cứng nhắc, sẽ không cho nàng lấy cha nếu họ biết mọi chuyện.

Cha đã trải qua một tháng đau đớn khủng khiếp bởi sự tra tấn chí tử, suốt một tháng bị ám ảnh bởi hàng ngàn suy nghĩ ghê đáng ghê sợ và cha cảm thấy trong mình dấy lên một sự căm ghét đứa con trai, cái sinh vật sống nhỏ nhoi, một khối thịt suốt ngày kêu gào, kẻ chắn lối, làm gián đoạn cuộc đời cha, lên án cha về sự tồn tại không chút hy vọng, không mọi mong đợi mơ hồ về một tuổi trẻ tươi đẹp.

Thế mà một ngày nọ, mẹ của cô gái sống chung với cha ốm và cha phải ở nhà một mình với đứa trẻ.

Bấy giờ là tháng mười hai, trời rét khủng khiếp. Ôi cái đêm hôm đó!

Cô ấy vừa mới đi khỏi. Cha ăn tối một mình trong phòng ăn nhỏ và nhẹ nhàng bước vào căn phòng nơi đứa bé đã ngủ say.

Cha ngồi xuống cái ghế bành trước lò sưởi. Gió đang thổi những cơn gió khô, buốt giá khiến mấy cánh cửa sổ run lên từng chập. Và xuyên qua cửa sổ, cha nhìn thấy những ngôi sao đang tỏa ra một thứ ánh sáng buốt lạnh thường lệ trong những đêm băng giá.

Sau đó, cái ý nghĩ đã ám ảnh cha cả tháng trời lại trỗi dậy và muốn thoát ra ngoài. Ngay khi cha im lặng là nó lại quay về và quấy rối cha. Nó ăn sâu bám rễ vào tâm trí cha như một suy nghĩ cố định, giống như những khối ung nhọt đã ăn sâu vào da thịt. Nó cứ ở đó, trong đầu cha, trong toàn bộ cơ thể cha. Và dường như nó đã nuốt chửng cha như một con quái vật điên cuồng. Cha đã cố gắng xua nó đi, cự tuyệt nó, mở tâm trí cho những suy nghĩ khác như mở một cánh cửa sổ cho làn gió trong lành buổi sớm xua đi ám khí trong phòng. Nhưng, cha không thể xua nó ra khỏi não mình, không thể thậm chí một giây một khắc. Cha không biết làm sao tả nỗi sự tra tấn này. Nó đã gặm nhấm tâm hồn cha và cha cảm thấy một cơn đau khủng khiếp, về cả thể xác lẫn lương tâm mình.

Cuộc đời cha đã bị hủy hoại! Làm sao cha có thể thoát khỏi tình cảnh này? Làm sao cha có thể quay lại và làm sao cha có thể thú tội?

Cha đã yêu người phụ nữ sau này trở thành mẹ của các con với một cảm xúc mãnh liệt nồng nàn mà giờ đây, điều chướng ngại này càng mọi thứ tệ hại thêm.

Một cơn thịnh nộ dữ dội đã chiếm lấy cha, làm cha ngạt thở, cơn thịnh nộ gần như một cơn mất trí! Chắc chắn cha đã trở nên điên loạn vào tối hôm đó!

Thằng bé đang say giấc. Cha đứng dậy và nhìn nó ngủ. Chính đứa nhỏ đáng nguyền rủa này, đứa trẻ vô nghĩa lý này đã kết tội cha vì một sự bất hạnh không thể đổi thay!

Nó đang ngủ, miệng hé mở, bao bọc trong mớ chăn gối trong một chiếc giường cũi cạnh giường cha, nhưng cha không thể nào chợp mắt được trên ấy.

Làm sao cha có thể làm như thế? Làm sao cha biết được? Điều gì đã thôi thúc cha? Thế lưc hiểm ác gì đã chiếm hữu lấy cha? Ôi! Sự cám dỗ phạm tội ác tràn ngập nơi cha mà không hề báo trước. Mọi thứ cha nhớ được chỉ là trái tim cha đang đập loạn xạ. Nó đập nặng nề đến nỗi cha có thể nghe thấy, như một người nghe thấy những nhát búa đằng sau một bức vách. Đó là tất cả những điều cha có thể nhớ- chính là tiếng đập của trái tim cha! Trong đầu cha có một sự hỗn loạn, xáo động kỳ lạ, một sự rối loạn điên rồ đến mất trí. Suốt một giờ, cha hoang mang và đầy ảo giác khi một người đàn ông không còn tỉnh táo với những hành động của mình và cũng không thể điều khiển ý muốn của bản thân.

Cha nhẹ nhàng dỡ những thứ bao bọc khỏi cơ thể đứa bé, bỏ chúng xuống chân cũi. Và giờ đây, thằng nhỏ nằm đó trơ trụi, trần truồng.

Đứa trẻ đã không thức giấc. Thế rồi cha nhẹ nhàng đi về phía cửa sổ, hoàn toàn êm ái và rồi mở nó ra.

Một hơi thở của băng tuyết buốt giá lướt vào trong như một tên ám sát. Nó lạnh đến nỗi cha phải đứng nép qua một bên và khiến hai ngọn nến trong nhà bập bùng. Cha vẫn tiếp tục đứng gần cửa sổ, không dám quay lại như thể sợ hãi phải nhìn cái đang điều đang diễn ra sau lưng và cảm thấy không khí lạnh lẽo tiếp tục lướt qua trán, gò má, đôi tay,… Luồng không khí chết chóc ấy vẫn tiếp tục tràn vào trong phòng. Cha đã đứng đó một lúc lâu.

Cha không nghĩ ngợi, không suy ngẫm bất kỳ điều gì. Bất thình lình, một cái ho nhẹ khiến cha rùng mình khủng khiếp từ đầu đến chân, mà đến giờ cha vẫn cảm thấy cảm giác đó trong từng chân tơ kẽ tóc. Và bằng một cử chỉ cuống cuồng, cha bất ngờ đóng cả hai cửa sổ lại và quay ra sau, chạy nhanh đến chỗ đứa bé.

Nó vẫn ngủ, miệng hé mở và hoàn toàn trần truồng. Cha chạm vào đôi chân nó, chúng lạnh như băng và rồi cha che chắn lại cho nó.

Trái tim cha đột ngột xúc động và đau đớn, lòng đong đầy nỗi xót xa trìu mến và tình yêu thương dành cho sinh linh vô tội mà cha đã muốn giết. Cha hôn mái tóc mềm mịn của nó thật lâu và dịu dàng. Sau đó, cha ra ngồi xuống cạnh lò sưởi.

Cha ngồi suy ngẫm lại mọi chuyện với sự sửng sốt lẫn sợ hãi cho cái điều mà cha đã làm, tự hỏi chính mình cơn bão lòng này từ đâu đến khiến một người có thể mất mọi điều nhìn xa trông rộng, mất mọi khả năng làm chủ bản thân mình và hảnh động như đang trong cơn say điên cuồng, không biết mình đang đi đâu, như một con thuyền trong cơn bão dữ.

Đứa bé lại ho và điều đó khiến tim cha như bị bóp nghẹt. Cha nghĩ là là nó sẽ chết! Chúa ơi! Chúa ơi! Cha đã biến thành thứ gì đây?

Cha đứng lên khỏi ghế và đến nhìn thằng bé. Cầm một ngọn nến trong tay, cha nghiêng về phía nó. Nhìn nó thở khe khẽ cha thấy đoan chắc một lần nữa. Và khi nó lại ho lên tiếng thứ ba, điều đó như một cú tát tai bất ngờ khiến cha bắt đầu đầu lùi về phía sau như  vừa trông thấy một điều gì đó quá ư khủng khiếp đến nỗi làm rơi cả cây nến.

Cha đứng thẳng dậy sau khi nhặt cây nến lên và nhận thấy rằng hai bên thái dương mình đã đẫm mồ hôi, thứ mồ hôi lạnh là kết quả của sự đau đớn tâm can. Thế rồi, cho đến tảng sáng, cha cứ cúi nhìn đứa con trai của cha, trở nên câm lặng khi thấy nó vẫn im lìm suốt lúc đó và đầy nỗi đau đớn thống khổ khi một cơn ho yếu ớt thoát ra khỏi miệng.

Thằng bé tỉnh dậy với đôi mắt đỏ ngầu, cổ họng bị ngạt và trông nó đầy đau đớn.

Khi người phụ nữ dọn phòng đến, cha bảo bà ta mời bác sĩ đến ngay lập tức. Sau một giờ, ông ta đến và sau khi khám cho đứa nhỏ ông ta hỏi:

“Nó không bị nhiễm lạnh chứ?”

Cha bắt đầu run như bị tê liệt và ấp úng:

“Không đâu, tôi không nghĩ thế.”

Rồi sau đó cha hỏi:

“Có chuyện gì vậy? Có nghiêm trọng không?”

“Tôi vẫn chưa biết,” ông ta trả lời. “Tôi sẽ quay lại vào buổi tối.”

Ông ấy lại đến vào buổi tối. Con trai cha vẫn tiếp tục trong tình trạng đờ đẫn, thỉnh thoảng lại phá ho hết suốt ngày hôm đó. Đến tối thì cơn viêm phổi bắt đầu.

Mười ngày trôi qua. Cha không thể nào tả nỗi cảm giác cha đã phải chịu đựng suốt những giờ phút dường như vô tận kéo dài từ sáng đến tối, rồi lại từ tối đến sáng.

Thằng bé đã chết.

Và kể từ khoảnh khắc đó, cha không thể trải qua một giờ nào, bất kỳ một giờ nào mà không bị hồi tưởng khủng khiếp này thiêu đốt, một sự hồi tưởng dày vò, một ký ức bóp nghẹt trái tim cha, sống dậy trong cha như một con quái vật man rợ bị giam cầm trong sâu thẳm tâm hồn.

Ôi! Giá mà cha đã có thể phát điên!”

Ông Poirel de la Voulte gỡ kính ra với một cử chỉ khác với mọi lần ông đọc các tờ giao kèo, khế ước. Và ba người con của người quá cố nhìn nhau mà không nói một lời, mặt tái nhợt và bất động.

Sau một phút, ông luật sư tiếp tục:

“Nó phải bị hủy.”

Hai người kia nghiêng đầu như một dấu hiệu đồng ý. Ông ta thắp sáng một cây nến, cẩn thận xé những trang giấy chứa lời thú tội có thể gây thiệt hại từ các mối quan hệ cho đến tiền bạc, đoạn ông ta giữ chúng bên trên ngọn nến và ném chúng vào lò sưởi.

Rồi sau đó, họ nhìn những mảnh giấy trắng đang bị đốt cháy cho đến khi chúng trở thành những đống than đen nát vụn. Và khi thấy một vài từ vẫn có thể đọc được trên dòng kẻ trắng, người con gái dùng mũi giày khều nhẹ, dẫm nát tờ giấy đang cháy, trộn lẫn chúng với đám tàn tro cũ trong lò sưởi.

Sau cùng cả ba ngồi đó nhìn nó một lúc nữa như thể họ sợ rằng điều bí mật đã bị tiêu hủy kia có thể thoát ra khỏi lò sưởi.

 Ngọc Vân

( Dịch theo bản tiếng Anh “A Father’s Confession”)

Truyện đã đăng trên Tạp chí Kiến thức ngày nay. Mọi trích dẫn xin vui lòng dẫn nguồn. Xin cám ơn!

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s