Bức tranh của người góa phụ

golddigger380

Helena Parris (Mỹ)

Những quý bà góa bụa hãy luôn coi chừng, nhất là khi họ còn giàu có nữa…!

Cơ hội, gã đã không trông mong vào sáng nay, song nó đã đến. Người phụ nữ đã rời tiệm cà phê khi cánh cửa phòng tranh mở hẳn. Bà cẩn thận bước qua con đường lát gạch gồ ghề mà hẳn những kiến trúc sư muốn làm chúng trở nên khác lạ. Ở tuổi vừa chớm ngũ tuần, bà vận một chiếc váy dài bằng vải bông trắng phía trên màu ngọc lam và đính những hạt đá trắng. Trên bàn tay trái, bà đeo một chiếc nhẫn cưới của đàn ông ngay vị trí một chiếc nhẫn nữ thanh mảnh. Từ chiếc bàn nơi vỉa hè, gã đăm chiêu quan sát bà. Gã trẻ hơn, chỉ mới ba mươi. Gã chỉ ngồi đây uống trà nóng để chống lại cái lạnh đáng nguyền rủa ngoài trời.

Gã nhìn xuống cái ly giấy, trà đã gần hết. Đứng dậy, gã ném cái ly vào rãnh nước, làm dấy lên cái nhìn phẫn nộ của cô bé dọn bàn. Gã chẳng thèm nhìn cô gái mà tập trung hoàn toàn vào người phụ nữ trong phòng tranh. Qua cửa sổ, gã có thể thấy bà đang trầm trồ vài bức tranh. Gã chẳng mấy hứng thú với hội họa nhưng gã có thể ứng biến khi cần thiết.

Người phụ nữ đang ngắm một bức tranh lớn vẽ một con phố đông đúc có lòng đường  ẩm ướt đang phản chiếu ánh mặt trời của thành phố. Trên phông nền, tháp Eiffel dường như bay bổng đằng sau những tòa cao ốc. “Khá đẹp đấy!”, gã tự nhủ với mình. Nó không phải là bức tranh gã nên đặt ở phòng khách. Căn hộ của gã là thế đấy, nếu treo lên bức tranh sẽ chiếm hẳn cả một bức tường và một phần lối ra vào nhà bếp. Suy nghĩ ấy khiến gã nhoẻn cười khi mở cửa bước vào.

Người phụ nữ đang nói: “ Đây là bức cuối cùng của ông ấy à, thế rồi sao?”

“Ồ vâng, bà Walker,” cô tiếp tân trả lời. “ Chỉ có một trăm bức tranh của Giclee thôi. Bà biết đấy, ông ấy không phải là họa sĩ thích làm cao nhưng đây là một bức đặc biệt và ông không muốn nó bị bạ đâu bày đấy.”

“Tôi hiểu ông ấy cảm thấy thế nào mà. Nó thật tuyệt. Tôi sẽ mua nó!” bà Walker quyết định. “Nó sẽ làm kỷ niệm ngày cưới của chúng tôi thật hoàn hảo.”

Gã liếc xuống chiếc nhẫn cưới đàn ông trên ngón tay bà. Kỷ niệm ngày cưới ư?

“Tôi có thể giúp gì cho ông, thưa ông?” cô tiếp tân trong phòng trưng bày hỏi gã.

“Không, thưa cô,” gã nói ngay. “ Tôi chỉ thưởng lãm mấy bức họa.”

“Ông cứ xem tùy thích. Ông từ tiệm cà phê sang đây phải không?”

“À, phải. Tôi cứ mải ngắm một bức tranh qua cửa sổ, thế là tôi nghĩ mình đã lạc đường sang đây.”

“Bức kia khá đẹp phải không ạ? Ông có thể đi xung quanh xem tranh trong khi tôi giúp quý bà này.”  Cô quay lại với bà Walker. “Bà sẽ mang đi hay giao nhận? Nó khá lớn thế nên tôi nghĩ bà nên để chúng tôi chuyển hàng đến cho bà.”

“Tất nhiên rồi. Số 674 đường Five Islands.”

Gã ghi nhớ cái địa chỉ khi đi lòng vòng trong phòng tranh và vờ ngừng lại để nhìn chăm chú vào bức tranh vẽ một thiếu phụ ăn mặc phong phanh trong cơn bão dữ. Nhưng lúc này gã đâu có quan tâm đến mấy bức tranh.

“Bà muốn nhận nó lúc nào?” cô gái hỏi bà Walker.

“Vào thứ sáu. Ngày mai tôi sẽ ở thư viện và những ngày còn lại trong tuần tôi bận rộn sửa soạn nhà cửa mất rồi.” Giọng bà dịu lại. “ Nó có vẻ là bức tranh hoàn hảo.” Bà phác một cử chỉ với bức tranh.

*****

Đêm đó gã lái xe tới đường Five Islands. Nó nằm ở khúc quanh dọc phía trước đường Bay Point nơi chạy thẳng đến bãi biển Popham, một trong những bãi biển đẹp nhất của Maine. Nhà cửa ở đây thưa thớt và gần như bị những bụi cây rậm rạp che khuất. Gã tìm ra hộp thư của Janet Walker, nhưng căn nhà ẩn đằng sau những hàng cây. Không có bất kỳ lý do để làm phiền gia chủ. Ngày mai, gã sẽ đến thư viện.

*****

Gã đi lang thang qua những giá sách, biếng nhác liếc nhìn mấy quyển sách. Một cuốn sách về lịch sử của tòa án Sagadahoc sẽ phù hợp hết sức. Mỹ thuật và lịch sử, gã cho là chúng có liên quan. Gã có thể thấy bà trong khu trẻ em của thư viện, đang đọc sách cho bọn trẻ. Một cách làm mình bận rộn, gã đoán thế. Khi bà đã xong việc với bọn trẻ, gã lảng đi chỗ khác. Bà có một khuôn mặt phúc hậu. Sẽ dễ dàng đây. Gã biết cách làm đẹp lòng những quý bà luống tuổi. Gã đâu có thiếu kinh nghiệm.

Ra khỏi thư viện, gã nhìn chằm chằm xung quanh cho đến khi thấy xe của bà. Thụp người xuống khe hở giữa nó và chiếc xe kế bên, gã lấy ra một cái đinh và nột viên đá khá lớn ra khỏi túi, đập một phát thật mạnh đóng cái đinh vào bánh xe trước. Rồi gã kéo mạnh nó ra và lại lặp lại ở vị trí khác. Gã chắc mẩm bánh sẽ bị xẹp đến khi bà ra. Giờ hắn chỉ việc đợi.

Gã ngồi trên chiếc ghế dài bên ngoài thư viện, chúi mũi vào một cuốn sách. Gã chờ đợi một cách kiên nhẫn, mải miết đọc cho đến khi bà đi ra, tìm thấy xe, và phát hiện ra sự cố… Không, chưa nào… Gã chờ chút nữa…

Đôi tay bà huơ trong không khí. Trán bà bị chà nhẹ khi bà quỳ xuống để nhìn gần hơn.

Gã gấp sách lại và đứng lên. Trái tim gã đập liên hồi khi tiến về phía bà, nhưng gương mặt vẫn không biểu hiện chút kích động nào mà gã luôn cảm thấy khi bắt đầu một “cuộc săn”.

“Tôi có thể giúp bà không, thưa bà?”

Bà quay lại phía gã. Liệu bà có nhận ra gã đã ở phòng tranh không?

“ Tôi thật không thể tin được.”

“Tôi rất ghét những chuyện như thế này. Bà có bánh xe dự phòng chứ?”

Bà ngây ra nhìn gã. “Tôi không rõ nữa. Nó ở đâu?”

“Thường thì nằm dưới cốp xe. Nếu bà mở ra cho tôi, tôi có thể xử lý được.”

Đôi mắt bà mở to. “ Ông quả là một vị cứu tinh.” Bà đi vòng quanh cái cốp và mở nó cho gã. “ Ồ, tôi có một cái thay thế, nhưng hẳn ông cần một cái kích hay cái gì đó chứ?”

“Tôi có một cái trong xe. Để tôi đi lấy nó.” Gã đi về xe, để cuốn sách lại nơi cái chắn bùn trên xe bà. Khi gã quay lại, bà hỏi: “ Thế ông thích tòa án lắm à, tôi thấy vậy.”

Gã gật đầu khi đặt cái kích vào đúng chỗ. “Mới đây tôi đã bắt đầu xem xét kỹ lưỡng vài kiến trúc ở đây. Tòa án đã tồn tại từ năm 1869, và nó không chỉ là một tòa nhà bằng bê tông như những cao ốc hiện đại. Nó rất có phong cách. Tôi luôn yêu những công trình trong thị trấn này, thế nên cuối cùng tôi đã quyết định chuẩn bị và bắt đầu tìm hiểu về chúng.”

“Nơi này có một Hội bảo tồn ở Bath. Anh nên tham gia. À, mà tôi là Janet Walker.”

Gã hơi nhỏm dậy để chìa tay ra. “Rất vui được gặp bà.” Gã nói tên cho bà. Đó chẳng phải là tên thật của gã và cũng chẳng có chút manh mối gì liên quan đến nó. Gã lại quỳ xuống tiếp tục công việc. Đến bước tiếp theo rồi. Gã để cái cờ lê trượt ra, đâm vào những đốt ngón tay rồi văng xuống đất. Gã đã không giả vờ khi kêu toáng lên vì đau, khi gã nhấc tay lên để xem xét vết thương, máu đã bắt đầu rỉ ra.

“Ôi, anh bạn…” Janet thốt lên.

Gã trông rất lúng túng. “Bà Walker, tôi sẽ gõ bỏ được mấy cái đai ốc này ra. Chúng luôn cứng đầu mà.”

*****

Một giờ sau họ đã ngồi trong một cửa tiệm sandwich nhỏ gần bến tàu, và gã kể cho bà nghe về bản thân. Tất nhiên, câu chuyện đời gã phần lớn là hư cấu. Gã đâu có sinh ra và lớn lên ở xứ Bath vùng Maine này và gã cũng chẳng phải một luật sư sống khá chật vật mới rời trường luật. Gã là người New York, ở quận Bronx, và gã đã sớm biết mình được sinh ra để lừa phỉnh. Lẽ ra gã đã có thể đến học ở trường luật bằng một học bổng nhưng sao lại phải áy náy chứ? Tiền rất dễ kiếm nếu cái lưỡi đủ lươn lẹo.

Xong bữa trưa, bà cho gã số điện thoại và cả hai nhất trí sẽ cùng dùng bữa tối. Gã chắc mẩm bà đã từng là một phụ nữ xinh đẹp ưa nhìn thời son trẻ, có lẽ những năm gần đây bà đã tiều tụy nhiều trong khi đáng lý bà có thể có bất kỳ người đàn ông nào bà muốn. Gã biết cách “xử trí” với những phụ nữ kiểu này, gã nghĩ thầm trong khi bơm một liều antihistamine để thông mũi. Cái lạnh đã ập đến và điều gã cần nhất lúc này là phải khụt khịt được.

Tối đó, họ đã dùng bữa tối trong một quán rượu nhỏ. Gã kể cho bà về cô con gái Laura, cảnh gà trống nuôi con bấy lâu và gã cho Janet xem tấm ảnh của con bé. Tất nhiên, cô bé đâu phải con gã. Đó là cháu gái của nạn nhân gần đây nhất của gã ở New York. Cô bé đáng yêu quá nên gã biết ngay là tấm ảnh này sẽ có thể hữu dụng cho gã ở những vụ sau. Bà cho gã xem ảnh của Barry, chồng bà, đã mất sáu tháng trước. Ông ta trông già hơn Janet rất nhiều. Nhìn bà lúc này, gã thấy bà chưa hề già và vẫn còn xinh đẹp. Gã cảm thấy tư lự khi trở về nhà tối đó. Chưa bao giờ gã có ý định kết hôn, nhưng nếu đó là một người phụ nữ giàu có, quyến rũ và lớn tuổi hơn gã thì sao nhỉ? Gã chưa bao giờ lo lắng về bất cứ thứ gì. Ở tuổi ba mươi, gã chỉ cần ngồi rung đùi và giải trí cho đến khi Janet xuất hiện với món tài sản của bà. Bà không có con cái. Bảo hiểm nhân thọ của bà sẽ thuộc về gã, gã sẽ là người thừa kế gia tài duy nhất.

Tất nhiên, gã chỉ cần bịa ra một lời giải thích về đứa “con gái”. Bingo, tức mẹ cô bé quay về, rồi việc kiện tụng nổ ra. Và thế là tòa cho cô bé về với mẹ, bởi vì những phiên tòa thì quá bất công và luôn bênh vực cho người mẹ…

Gã cười rõ to. Và sau đó gã hắt hơi. Gã phải nốc mấy viên thuốc cảm ban đêm. Janet đã mời gã đến dùng bữa sáng ngày hôm sau. Mọi chuyện đều tiến triển rất tốt nhưng giá mà gã kiểm soát được cái lạnh.

*****

Gã xuất hiện trên lối vào sáng hôm sau, không quá sớm. Gã đã không muốn là một kẻ quấy rầy sau mọi nỗ lực. Gã mê mẩn mọi thứ xung quanh sau khi ra khỏi xe. Đó quả thật là một ngôi nhà lộng lẫy gần ngã rẽ về phía bãi biển Popham.

Trong lúc nhấm nháp mấy cái bánh kếp và cà phê ở ban công, gã chú ý đến những cái máng xối cần làm sạch. Gã tình nguyện làm giúp bà.

“Sao lại thế? Tôi không mời anh đến để làm việc vặt đâu.”

“Không” gã khăng khăng. “Janet, chúng cần được xử lý nếu không bà sẽ phải gặp rắc rối phía dưới con đường. Nếu Barry còn sống ông ấy cũng sẽ bảo vậy thôi.”

Bà hắng giọng và ấp úng, nhưng cuối cùng gã đạt được mục đích. Gã muốn trở thành một thứ cố định ở nơi này càng sớm càng tốt. Thế là ngày hôm đó gã dọn sạch và sửa sang lại mấy cái máng xối, sơn vài món đồ gỗ có vẻ bị mưa nắng làm bạc màu và tìm thấy một tá những việc vặt nhỏ nhặt để giải quyết xung quanh nhà. Gã làm ra vẻ mình không cần tiền. Không, gã chỉ là một anh chàng dễ thương, một người lắp hộ bánh xe xì lốp và là vị cứu tinh của các bà góa. Gã sẽ lấy “tiền lương” bằng một cách thức nhẹ nhàng êm ái khác, gã nghĩ, nhoẻn cười với chính mình trong lúc nhấn cái cọ xuống thùng sơn trắng. Hai ngày sau đó, gã lại đến nhà Walker, kể những câu chuyện cổ tích về trường luật và về con gái với mẹ nó. Và gã như phát điên chờ đợi đến ngày gặp con bé, gã nói, lắc lắc đầu. Tất cả là vì tiền, cô ta đã từng nghĩ gã sẽ là một luật sư giàu có.

Và Janet làm cho gã mấy miếng bánh sandwich gà tây cho bữa trưa, kể về chồng bà, một họa sĩ đã tự xây dựng nơi này khi ông còn trẻ, chuyện ông đã đạp xe vào bốn giờ sáng xuống bãi biển để vẽ ngọn hải đăng Pond Island trong ánh sáng hồng nhạt của vầng dương mọc ra sao.

Đây quả là nơi tuyệt đẹp mà gã thích thú vô cùng. Gã không thể chờ để được sống ở đây thêm nữa. Về phần Janet, gã quyết định sẽ cho bà quanh quẩn quanh gã miễn là bà còn xinh đẹp độ khoảng năm đến mười năm nữa. Sau đó, sẽ chẳng có ai ngờ nếu bà ngã xuống từ cầu thang vào lúc hai giờ sáng. Cái cầu thang được đóng bằng ván ô màu gỗ tối, màu sắc u ám thậm chí vào ban ngày. Janet đã phàn nàn về điều này. “ Barry rất tiếc ngay sau khi làm xong, nhưng chúng tôi đã trả tiền và nó được đóng mất rồi. Thế là ông nhà tôi đã lên kế hoạch sơn lại màu cho cái cầu thang sống động lên. Nhưng ông ấy đã không có cơ hội làm điều đó.” Bà thở dài.

“Vậy ra ông nhà đã xây cái thang trước đây không lâu à?” gã hỏi.

Bà gật đầu. “ Đó là cả một khoản lớn, dựng những thanh gỗ gụ đã chạm khắc lên. Nhà tôi muốn biến cầu thang thành một nơi trưng bày những bức vẽ ông ấy yêu thích. Sau khi cầu thang đã làm xong từ hai năm trước, ông ấy bắt đầu treo những bức tranh lên với những chùm đèn rọi vào để làm chúng thật sinh động. Thế nhưng cầu thang vẫn không đủ sáng. Vậy là nhà tôi sửa soạn vẽ một bức tranh thật lớn đặt ngay trên đầu cầu thang, thay thế cho bức nhỏ hơn đang treo ở đó. Ông ấy chỉ vừa mua tấm vải bạt, chuẩn bị vẽ cảnh một con phố, hoàn toàn tươi sáng và sống động. Nhưng một buổi sáng…” giọng bà chùng xuống. “Tôi thức dậy, đi xuống bếp, pha cà phê như lệ thường, Tôi pha một tách và mang lên phòng cho ông ấy. Và, sau đó tôi phát hiện ra nhà tôi đã qua đời được một lúc rồi. Nhân viên điều tra nói ông ấy mất trong lúc ngủ.” Giọng bà bình tĩnh nhưng hàm răng siết chặt cố nén.

Gã đưa tay nắm lấy bàn tay bà. “ Ồ, Janet, tôi rất tiếc.”

Bà vỗ nhẹ tay gã. “Cái gì tới, đã tới. Thứ bảy này là đến kỷ niệm ngày cưới của chúng tôi và tôi sắp sửa sang nhà cửa để có một bữa tiệc nho nhỏ cho chính mình. Tôi biết điều này nghe có vẻ kỳ khôi nhưng tôi thậm chí đã mua cả một bức tranh để treo ngay đầu cầu thang. Đó không phải tranh của nhà tôi, nhưng nó rất đẹp và tôi biết ông ấy cũng sẽ thích nó.”

“Tôi muốn ngắm bức tranh được không?”

“Nó sẽ được giao đến vào chiều mai. Anh sẽ được tiếp đãi ân cần hơn khi sang đây. Nhưng ngày mai nhé, thực sự lúc này tôi muốn ở một mình.”

“ Tất nhiên”, gã nói đầy vẻ cảm thông. “ Tôi rất ngưỡng mộ điều bà đã làm. Mai tôi sẽ đến nhé.”

*****

Chiếc xe tải cuối cùng cũng đã xuất hiện lúc sáu giờ rưỡi.

“ Xin lỗi, Bà Walker.” Người tài xế còn trẻ, chỉ vừa qua tuổi thiếu niên và hơi bối rối. “Tôi đã không thể tìm ra nhà bà.” Cậu đi vào cửa và thấy gã. Một thoáng, cậu ta giật mình nhưng sau đó quay nhanh sang bà Janet Walker. “Chúng tôi có thể treo bức tranh lên giúp nếu bà cho biết nó cần treo ở chỗ nào.”

Bà dẫn đường lên đầu cầu thang. “Ngay đây. Tôi đã làm dấu cho cậu.”

“Đây là chỗ rất đẹp.” Một người đàn ông khác nói, trầm trồ vị trí mới của bức tranh.

Trong khi họ lấy bức tranh ra khỏi kiện hàng, gã bước vào bếp. Gã biết mình đã gặp cậu thanh niên kia ở đâu đó nhưng không nhớ rõ là nơi nào. Tốt nhất là chọn giải pháp an toàn và ra khỏi “tầm ngắm”. Nhưng Janet đang gọi gã.

“Ồ, đây rồi. Anh thấy sao?”

Gã giả vờ trầm trồ cảnh con phố và cố gắng không nhìn vào cậu thanh niên. Cậu ta cũng không nhìn gã, cứ thế, cuối cùng gã cũng thực sự thoải mái ngắm nghía bức tranh. Quả thật đó là một vị trí rất tuyệt, gã thừa nhận bà Janet Walker đã chọn đúng.

Những người giao hàng đã ra về, cậu thanh niên kia cũng phớt lờ gã. Gã tự hỏi có phải mình đang tưởng tượng ra mọi chuyện hay không. Janet lấy ra một chai rượu và một cặp cốc. “Tôi có thể dùng chút ít. Anh thì sao?”

Gã cười. “Tôi cũng vậy. Bà thật tinh tế. Bức tranh làm cả bức tường trở nên sống động.”

“Tôi nghĩ bức tranh này rất giống những hình ảnh mà Barry đã từng tưởng tượng. À, mà thậm chí, nó y hệt vậy.” Bà rót rượu ra. Đó là rượu vang đỏ buôcgônhơ, không phải thứ gã thích. Rượu mạnh làm gã đau đầu, nhưng gã sẽ không nói ra điều đó bây giờ. Chính Janet đang giúp gã bước qua màn tiếp theo.

Họ nói về hội họa, về ngọn những hải đăng ở Pond Island và Wood Island, về Barry. Cuối cùng bà đứng lên và nói: “ Tôi phải đi ngủ rồi. Anh có muốn ghé thăm vào thứ hai để đi đâu đó không?”

“Nghe hay đấy. Bà có chắc là bà sẽ ổn vào ngày mai không?” Gã đáp nhưng đầu đã thực sự bắt đầu choáng váng.

“Vâng, hẳn rồi.” Nói đoạn, bà đi vào bếp cất mấy cái ly.

Gã nhìn lên cầu thang, nhìn cảnh con đường với ngọn tháp Eiffel trôi nổi trong sương mờ giăng phía sau. Gã trèo lên các bậc thang để nhìn rõ hơn. Chân gã nặng trĩu. “Thứ rượu đáng nguyền rủa!”, gã thầm nhủ.

Lên gần hơn, ánh sáng của con phố trông có vẻ như rực rỡ thực sự, người qua kẻ lại gần to như thật. Những con đường ẩm ướt phản chiếu ánh sáng hắt ra từ các cửa hiệu bày đầy bánh ngọt và rau quả. Sương mù trong bức tranh dường như giăng khắp nơi và mọi người khom mình xuống để giữ ấm. Gã cũng cảm thấy ấm. Rượu như đang hát trong tai gã khi gã nghiêng đầu để nhìn tháp Eiffel. Gã bước lùi, chú mục vào phần đỉnh tháp khẳng khiu…

Sàn nhà dường như biến mất bên dưới chân gã và ngọn tháp lờ mờ phía xa, quay vòng vòng cao hơn và giờ đây trần nhà như đang trôi nổi xa xa phía trên đầu gã. Đó là hình ảnh cuối cùng gã thấy trước khi cảm nhận một cú va đập liểng xiểng sau gáy mình.

*****

Bà Janet Walker đã gọi những trợ y ngay lập tức. Giờ đây gã ở trong khu điều trị đặc biệt, vẫn bất tỉnh. Trong phòng chờ, Janet đang nói chuyện với cảnh sát trưởng. “ Anh ta đã giúp đỡ tôi trong tuần này và chẳng lấy một xu. Thật là một người đàn ông trẻ tốt bụng vừa rời trường luật.”

Bác sĩ đi ra. Lắc đầu. “Anh ta còn lơ lửng trên chín tầng mây. Anh ta đã nốc đầy thuốc cảm và cuối cùng tưới rượu lên trên.”

Viên cảnh sát gật đầu, hỏi tiếp. “Bà nói anh ta có một đứa con gái ư?”

“Vâng. Ông sẽ cần nói chuyện với cô bé. Tôi đoán thế. Cả với mẹ cô bé nữa.”

Cảnh sát trưởng Owens chỉ vào chiếc ví và tấm hình cô bé gái. “ Cái tên mà bà cung cấp cho tôi không giống với tên trong bằng lái của anh ta.”

Lông mày bà nhíu lại: “ Cái gì?”

“Còn vài điều khác nữa. Một anh chàng tên là Mark Langford đã đến gặp tôi hôm nay. Hình như bà đã nhờ chuyển đến nhà một bức tranh tối nay. Đó là một người giao hàng. Cậu ta đến từ New York, nhưng cậu ta nghĩ đã nhận ra gã này là kẻ đã lừa đảo bà cậu ta. Bà ấy đã đưa cho gã hết khoản tiền tiết kiệm cả đời mình. Thậm chí bà ấy còn cầm cố cả nhà cửa để đưa cho hắn thêm tiền. Sau đó hắn biến mất. Bà ấy quá xấu hổ không dám kể với gia đình rồi chết vì lên cơn đau tim. Khi đó, họ hàng mới biết tài khoản ngân hàng của bà đã hết nhẵn. Tiền học phí của Mark, tiền tiết kiệm hưu trí của bà, giá trị căn nhà, tất cả đều mất trắng. Và sau đó họ phát hiện ra mọi ngân phiếu đã thanh toán đều được chuyển đến cho một gã đàn ông trẻ tuổi đã quanh quẩn gần nhà bà suốt. Hắn đã giúp đỡ rất nhiều, sửa mái nhà, xúc dọn lối đi và những thứ vặt vãnh như thế.”

Bà há hốc mồm vì choáng váng. “Không thể nào!Anh ta…. Tôi không thể tin được.”

“Tôi đã bảo Mark đến bệnh viện để xem xét nếu anh ta chắc chắn đó là hắn. Bởi vì lúc này hắn chẳng thể đi đâu được nên đây là thời điểm thích hợp nhất.”

Cậu thanh niên giao hàng đã vào và ngồi phía sau ông. Cảnh sát trưởng Owens cho cậu xem hình trong bằng lái gã ta. “Thật khó nói. Tôi chỉ gặp hắn có hai lần.” Cậu ngừng lại. Sau đó cậu chỉ vào tấm hình của cô bé gái. “ Nhưng mà, đây chính là em gái nhỏ của tôi. Tại sao lại có tấm hình của nó trong ví hắn?”

Janet tái mặt khi nhìn chằm chằm vào cậu, sau đó vào tấm hình, “Gã nói rằng đó là con gái của gã,” bà thì thào. “ Cậu chắc chứ?”

“Đó là em gái nhỏ của tôi,” Mark Langford quả quyết lặp lại. “Đây là hình khi nó học lớp năm. Nó ghét cái váy này, nhưng mẹ tôi may cho nó và bà bắt nó phải mặc vào ngày chụp hình. Đó là Kylie.”

*****

Đó là chuyện hai ngày trước khi gã bắt đầu tỉnh, đôi mắt chậm chạp chống lại màn khói đen đã bao phủ gã. Janet đâu rồi? Gã cố nhấc tay lên, nhưng gã không thể cảm thấy cả hai cánh tay. Gã cố dịch chuyển trên giường. Nhưng gã không thể cử động. Gã cũng chẳng thể cảm thấy đôi chân mình. Gã gọi tên bà và nghe tiếng bước chân đang tiến đến gần.

Song dáng người thấp thoáng trước mắt gã không phải là Janet. Ông ta là viên cảnh sát. Gã cố nghĩ. “ Cái gì đã xảy ra vậy?” Những từ ngữ líu nhíu trong mồm gã.

Viên cảnh sát lịch sự nhưng ngắn gọn. “ Ông đã ngã xuống mấy bậc thang. Ông bị bắt giữ vì tội gian lận và tống tiền. Ông có quyền giữ im lặng. Nếu ông từ bỏ quyền tiếp tục im lặng, bất cứ điều gì ông nói có thể được dùng chống lại ông trước tòa. Ông có quyền gọi luật sư…”

Trước đây, gã đã nghe những câu này rồi, chúng chẳng dọa được gã đâu. Gã có thể tiếp tục “xử lý” việc này. Nhưng gã sẽ phải nghĩ rất nhanh. Khỏe lại, ra khỏi bệnh viện này và tiếp tục biến mất như những phi vụ trước. Tất nhiên, hiện tại gã không thể di chuyển vì phải thuốc thang. Gã sẽ giả câm cho đến khi khỏe hơn và sau đó mặc một bộ đồ giải phẫu và đi ra cửa như thể những hộ lý khác.

Nhưng, trong lúc suy tính những điều này gã không hề biết rằng mình sẽ không thể đi đâu được nữa. Cổ gã đã gãy sau cú ngã khiến gã liệt suốt đời.

NGỌC VÂN

(Dịch từ The Widow’s Painting)

Truyện đã đăng trên Tạp chí Kiến thức ngày nay. Mọi trích dẫn xin vui lòng dẫn nguồn. Xin cám ơn!

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s